Close

About Viet SEO


WEB DESIGN & GOOGLE OPTIMIZATION

T: +84 917 212 969

* Website đang xây dựng, CHƯA CHÍNH THỨC sử dụng. Tin tức, bài viết, sản phẩm chỉ đăng làm mẫu!
* CẦN MUA TÊN MIỀN "HOCLAMNAIL.AOSOMINU.ORG", vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Dụng cụ phẩu thuật: 098.8955.504

– Dụng cụ hút Dụng cụ cắt có chức năng chính là cắt mô.

+ Kéo là đại diện chính cho nhóm dụng cụ cắt. Tùy theo loại mô và vị trí của mô được cắt mà kéo có cấu tạo hình thể và chiều dài khác nhau. kéo Mayo, nặng và chắc chắn, được sử dụng để cắt chỉ hay cắt các mô dày chắc như cân, cơ… kéo Metzenbaum, ngược lại, mảnh và nhẹ, được sử dụng để cắt các cấu trúc mô mỏng mảnh như thanh mạc (màng bụng, màng phổi, màng tim). Một số loại kéo đặc biệt khác được sử dụng để cắt chỉ thép, cắt mở mạch máu…

+ Dụng cụ bóc tách có chức năng chính là cắt và phân tách các mô. Dụng cụ bóc tách được phân làm hai loại: dụng cụ bóc tách sắc và dụng cụ bóc tách cùn. Dao là đại diện cho dụng cụ bóc tách sắc. Lưỡi dao có nhiều loại khác nhau, phục vụ cho mục đích thực hiện đường rạch dài hay ngắn, nông hay sâu. Các lưỡi dao có số 10, 11, 12, 15 khớp với cán dao số 3. Lưỡi số 10, được sử dụng phổ biến nhất, dùng để thực hiện các vết rạch dài. Lưỡi số 11 cho các vết rạch nhỏ và lưỡi số 15 cho các vết rạch rất nhỏ. Lưỡi dao số 15, khi được dùng để cắt trong sâu, sẽ được lắp vào cán dao số 7. Khi sử dụng dao lớn hơn (cán dao số 4), các lưỡi dao số 22-25 được sử dụng. Để bóc tách cùn, có thể dùng kéo (kéo Mayo hay Metzenbaum cong và đầu tù), các kẹp mạch máu (cong và đầu tù), phần đỉnh của cán dao, nạo (curett) và dụng cụ nâng (elevator)….


+ Nhíp là đại diện cho nhóm dụng cụ cầm giữ mô. Kẹp allis và Babcock cũng thuộc nhóm này, nhưng thường được dùng để cầm giữ mô ruột. Dụng cụ cầm giữ mô có răng hay không có răng. Trên nguyên tắc, dụng cụ có răng sẽ gây sang chấn mô. Dụng cụ có răng nhỏ không hay ít gây sang chấn. Cần nhớ rằng dụng cụ có răng sẽ có tác dụng cầm giữ mô chắc chắn hơn dụng cụ không răng. Các nhíp có răng lớn (nhíp răng chuột) chỉ được dùng để cầm giữ da. Nhíp có răng nhỏ hay không răng có thể được sử dụng để cầm giữ mô dưới da, cân cơ. Nhíp không sang chấn được dùng để cầm giữa thành ruột hay mạch máu…Kẹp Allis là dụng cụ cầm giữ gây sang chấn, còn kẹp Babcock là dụng cụ cầm giữ không gây sang chấn. Khi kẹp ruột, dùng Allis kẹp phần ruột sắp được cắt bỏ, còn Bobcock kẹp ruột bên phía được giữ lại. Một số dụng cụ kẹp mô có tính năng tạm thời ngăn chận sự lưu thông trong lòng ruột (kẹp ruột), kẹp lấy sỏi mật , kẹp phế quản …

+ Kẹp mạch máu (kẹp cầm máu) có tính năng tạm thời ngăn chận sự lưu thông trong lòng mạch máu. Để cầm máu trực tiếp từ một đầu động mạch (hay tĩnh mạch) đang chảy máu, chúng ta có kẹp động mạch. Kẹp động mạch có thể được thiết kế đặc biệt để kẹp các mạch máu đặc biệt (thí dụ kẹp động mạch phổi). Kẹp có thể được chia làm hai loại: kẹp sang chấn, còn gọi là kẹp nghiến hay kẹp chết và kẹp không sang chấn, còn gọi là kẹp sống. Trong trường hợp kẹp ruột, sử dụng kẹp nghiến cho phần ruột sắp được cắt bỏ, còn kẹp sống cho phía bên ruột được giữ lại.

+ Dụng cụ vén được sử dụng với mục đích mở rộng phẫu trường, làm cho thao tác phẫu thuật được thực hiện dễ dàng hơn ở một vùng hay một tạng mà không làm tổn thương các tạng lân cận. Dụng cụ vén có thể là dụng cụ vén bằng tay hay dụng cụ vén tự động. Kẹp mang kim được sử dụng để cầm giữ kim khi khâu. Kẹp gạc và kẹp khăn mổ dành cho cầm giữ gạc mổ và khăn mổ. Các dụng cụ phẫu thuật được Học bằng thép không rỉ. Một số dụng cụ phẫu thuật được Học bằng titanium, chromium, vanadium, hay molybden… Cách cầm các dụng cụ phẫu thuật đúng là tuân theo nguyên tắc “ba điểm tựa” (hình 6) để dụng cụ vừa được cầm giữ chắc chắn vừa tạo được sự linh hoạt trong thao tác.



1.2-Chỉ khâu và kim khâu

1.2.1-Chỉ khâu:

– Có nhiều loại chỉ khâu, chúng được phân loại dựa trên tính chất tan hay không tan, một sợi hay nhiều sợi. Các loại chỉ bị phân huỷ và mất đi khả năng chịu lực trong vòng 60 ngày được xem là chỉ tan. Khả năng chịu lực của chỉ có thể giảm với các mức độ khác nhau trước khi chỉ bắt đầu bị phân huỷ. So với chỉ không tan, chỉ tan có thời gian duy trì khả năng chịu lực ngắn hơn nhưng ít gây phản ứng của cơ thể đối với dị vật hơn. So với chỉ nhiều sợi, chỉ loại một sợi ít có nguy cơ gây nhiễm trùng hơn, nhưng dễ bị tổn thương bởi dụng cụ phẫu thuật. Việc chỉ định chỉ tan hay không tan, một hay nhiều sợi phụ thuộc vào các yêu cầu sau đây:

+ Thời gian một vết thương lành hoàn toàn và không cần lực hỗ trợ nữa.

+ Nguy cơ nhiễm trùng của vết thương.

+ Mức độ phản ứng của vết thương đối với dị vật. Chromic catgut là loại chỉ một sợi có thời gian tan nhanh (7-8 ngày). Chúng có nhược điểm là gây phản ứng mô, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Hiện nay chromic catgut chỉ còn được dùng trong khâu nối lớp niêm mạc ruột. Polyglactic acid (Vicryl) và polyglycolic acid (Dexon) là hai loại chỉ tan loại nhiều sợi được xử dụng phổ biến nhất hiện nay. Chúng được chọn lựa cho việc khâu nối ống tiêu hoá hay khâu đóng lớp mô mỡ dưới da. Polypropylene, nylon và chỉ thép đại diện cho nhóm chỉ không tan loại một sợi. Polypropylene được sử dụng trong khâu nối mạch máu, khâu đóng cơ hoành… Nylon chỉ được dùng để khâu đóng da. Silk là loại chỉ không tan loại nhiều sợi hiện nay chỉ còn được sử dụng để buộc hay khâu buộc các mạch máu. Một số vấn đề cần lưu ý khi sử dụng các loại chỉ trong phẫu thuật:

+ Chỉ càng hiện diện với số lượng nhiều trong cơ thể, nguy cơ phản ứng đối với vật lạ của cơ thể càng cao. o Khâu càng nhiều lớp, nguy cơ nhiễm trùng vùng khâu sẽ tăng. o Cầm giữ chỉ loại một sợi bằng dụng cụ (kẹp) sẽ làm giảm 50% khả năng chịu lực của chúng.



+ Với cùng một loại chỉ, khâu trong da sẽ tạo ra sẹo xấu hơn so với khâu dưới da. Loại chỉ Một sợi Tan catgut, chromic catgut polyglecaprone25 (Monocryl) Không tan polypropylene (Prolene) nylon chỉ thép

1.2.2-Kim khâu:

– Kim khâu được phân loại dựa theo hình dáng (của mủi kim, thân kim và đuôi kim) và kích thước của kim. Hình dáng của mủi kim và thân kim quyết định việc chọn lựa kim cho việc khâu vết thương của các mô khác nhau. Kim được phân thành các loại chính sau:

+ Kim nhọn (taper): kim có mũi nhọn,

Dụng cụ phẩu thuật

Dụng cụ dùng trong phẫu thuật khá phức tạp và đối với từng ca phẫu thuật bộ phận khác nhau thì có yêu cầu về dụng cụ phẫu thuật khác nhau. Trong bài viết này chúng tôi sẽ chia sẻ những thông tin về các loại dụng cụ dùng trong phẫu thuật cơ bản. Dụng cụ cầm giữ mô có răng hay không có răng. Dựa vào nguyên tắc, dụng cụ có răng có thể gây sang chấn mô. Các dụng cụ có răng nhỏ không hay ít răng gây sang chấn. Tuy nhiên, dụng cụ có răng sẽ có tác dụng cầm giữ mô chắc chắn hơn các dụng cụ không răng.
Bàn mổ Việc sử bàn mổ dụng phụ thuộc vào thiết kế và thông số kỹ thuật, Bàn mổ đa năng điện thủy lực Scandia SC330 là bàn mổ hiện đại phù hợp cho tất cả các chuyên khoa, đáp ứng nhu cầu của mọi loại hình phẫu
Giấy tổ ong Ứng Dụng Của Giấy Tổ Ong Trong Cuộc Sống, Nhờ vào cấu trúc tổ ong nên giấy tổ ong có khả năng làm tiêu tan nhiệt và cách âm tốt hơn do có nhiều khoảng không gian chết. Mà khả năng dẫn nhiệt

4.2. Theo cường độ chiếu sáng yêu cầu:

- cường độ thấp;

- cường độ trung bình;

- cường độ cao.

4.3. Theo nguồn cấp điện, có các loại:

- nguồn điện lưới;

- nguồn điện ắc quy;

-  nguồn điện lưới và nguồn điện ắc quy.

5. Yêu cầu kỹ thuật

5.1. Hệ thống cần đèn gồm các đoạn ống Học bằng vật liệu không gỉ, mạ hoặc sơn tĩnh điện. Các đoạn ống được nối với nhau bằng khớp nối. Khớp nối ống phải bền chắc, dễ xoay khi cần điều chỉnh và có thể tháo lắp được.

Chiều dài cánh tay đèn (đoạn ống đỡ bóng đèn) đối với loại đèn treo trần và treo tường không lớn hơn 2 000 mm, đối với loại đèn đứng di động không lớn hơn 800 mm.

Chiều cao của đèn có thể điều chỉnh, đối với đèn treo trần và đèn treo tường (tính từ điểm treo đến bóng đèn theo phương thẳng đứng) không lớn hơn 1 200 mm, đối với đèn đứng di động không lớn hơn 2 400 mm.

5.2. Đèn đứng di động có các bánh xe bằng vật liệu chịu mài mòn và ăn mòn của hóa chất. Các bánh xe phải tiếp xúc đều trên mặt phẳng, quay trơn nhẹ, có phanh hãm hoặc không phanh hãm. Đèn phải có đối trọng tốt, đảm bảo khi quay các hướng không bị lật và khi di chuyển vị trí chao đèn, các hướng bị di lệch quá yêu cầu quy định.



Thông số kỹ thuật:

Ø  Cường độ chiếu sáng ở khoảng cách 1 m (Ec): 100 Klx.

Ø  Nhiệt độ màu của năng lượng bức xạ: 4.2000K

Ø  Chỉ số tạo màu (CRI): 94 Ra.

Ø  Đường kính vùng chiếu sáng nơi độ rọi đạt 50% Ec (d50): 94 mm.

Ø  Đường kính vùng chiếu sáng nơi độ rọi đạt 10% Ec (d10): 180mm.

Ø  Độ sâu chiếu sáng theo tiêu chuẩn IEC 60601-2-41 (L1+L2) ở 20%: 1.145 mm.

Ø  Năng lượng bức xạ hoàn toàn Ee nơi độ rọi đạt mức tối đa: 230W/m2

Ø  Tỷ lệ giữa năng lượng bức xạ Ee và độ rọi Ec: 2.3mW/m2.lx

Ø  Năng lượng bức xạ UV với bước sóng nhỏ hơn 400nm: 5,2 W/2m .

Ø  Thông số điện

o   Biến áp lực a.c. 50/ 60Hz: 200 VA.

o   Sự hấp thu điện: 120 VA.

o   Tipe đèn (24V): 100 W.

o   Tuổi thọ trung bình của đèn: 2.000 h.

o   Điều khiển độ rọi bằng kỹ thuật số.

Ø  Số liệu chung

o   Màu: Ral 9003.

o   Độ cao tối thiểu của phòng: khoảng 2.700 cm.

o   Hướng dẫn: 93/42 EEC.

o   Tiêu chuẩn IEC 60601-2-41.

o   Phân loại sản phẩm: Med. Dev. Class I.

Ø  Kích thước

o   Đường kính gương phản xạ ngoài: khoảng 40 cm.

o   Đường kính gương phản xạ elliptic: khoảng 34 cm.

o   Bề mặt chiếu sáng có lợi: khoảng 740cm2



Tính năng:
    - Bóng Led tuổi thọ cao và tiết kiệm năng lượng
    - Chao đèn được làm từ hợp kim nhôm với bề mặt được phủ lớp bảo vệ chống khuẩn, chống thấm nước
    - Không tạo hiệu ứng bóng khi chiếu sáng
    - Sử dụng công nghệ ánh sáng lạnh Led

Đèn phẫu thuật là loại đèn y tế chuyên dụng được dùng trong các phòng mổ. Đèn phẫu thuật có rất nhiều dạng khác nhau như đèn hai nhánh, đèn treo trần, hay đèn mổ di động. Dù là loại đèn nào, đều cần đảm bảo cung cấp đủ ánh sáng, và giúp bác sĩ phẫu thuật phân biệt rõ cấu trúc giải phẫu của các phần trên cơ thể. Đèn mổ đóng góp nhiều vào sự thành công của mỗi ca phẫu thuật. Bên cạnh loại đèn mổ hai nhánh, đèn phẫu thuật treo 1 nhành cũng được sử dụng rất phổ biến. Loại đèn phẫu thuật treo trần 1 nhánh có thể giúp cung cấp đủ ánh sáng cho ca mổ mà vẫn tiết kiệm được không gian trong phòng. Đồng thời nó cũng khá gọn nhẹ mang lại nhiều thuận lợi cho công việc trong phòng mổ. Dưới đây chúng tôi sẽ giới thiệu một dòng sản phẩm đèn mổ 1 nhánh của hãng Elpis của Hàn Quốc. Đây là hãng sản xuất đèn phẫu thuật nổi tiếng trên thế giới với sản phẩm chất lượng cao.

Đèn mổ treo trần VLED làm nổi bật khả năng hiển thị của các vị trí phẫu thuật, giúp bác sĩ nhận được các hình ảnh  chính xác để thực hiện đúng các thao tác phẫu thuật, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và đội ngũ phẫu thuật viên.

Ánh sáng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong phòng mổ. Việc ứng dụng công nghệ đèn mổ LED được xem là bước đột phá trong phẫu thuật và mang đến lợi ích rất lớn.

Không chỉ là một yếu tố quyết định hiệu suất làm việc, nguồn ánh sáng đáng tin cậy giúp bác sĩ nhận được các hình ảnh  chính xác để thực hiện đúng các thao tác phẫu thuật, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và đội ngũ phẫu thuật viên.

Để đáp ứng các yêu cầu cao trong phòng mổ, Y Việt cung cấp đèn mổ VLED giúp bác sĩ phẫu thuật có được điều kiện tốt nhất, đáp ứng hầu hết các loại hình phẫu thuật.

 − Đèn mổ S701 là đèn phẫu thuật với công nghệ halogen. Mạnh mẽ và hiệu quả, ánh sáng phẫu thuật S701 cho phép các bác sĩ phẫu thuật chiếu sáng tốt mà không có bóng mờ.


Quảng Cáo